* Một phản chứng thời đại
Trong Lời Mở Đầu cuốn Mother Teresa, Essential Writings, Jean Maalouf nhắc lại nguyện ước của Mẹ Têrêsa xin tình nguyện làm cây bút chì nhỏ trong bàn tay Chúa và thực sự Chúa đã sử dụng đời sống của Mẹ để viết ra một cuốn Tin Mừng sống động trong thời đại chúng ta. Và chính khi để ánh sáng của Chúa chiếu sáng trong đời sống và hoạt động của Mẹ, Mẹ đã trở thành ánh sáng cho muôn dân.
Và quả thực giữa thời đại tiên tiến của chúng ta, Mẹ Têrêsa không đi rao giảng Tin Mừng như các nhà truyền giáo, hoặc đứng trên bục rao giảng Tin Mừng như các linh mục hay các mục sư, nhưng bằng đời sống và hoạt động thừa sai bác ái của Mẹ, Mẹ không còn phải là một người đi rao giảng Tin Mừng nữa, nhưng chính Mẹ được Chúa sử dụng trở thành cuốn Tin Mừng sống động cho mọi người, mọi tôn giáo, mọi dân tộc trên thế giới tìm đọc. Con người của thời đại hôm nay tin vào tiếng nói của đời sống hơn là tiếng nói rao giảng suông, tin vào chứng tá của cuộc đời hơn là những lời nói đơn điệu lý thuyết.
Mỗi thời đại Thiên Chúa ban hành một loại Kinh Thánh. Trong thời Cựu Ước, Ngài dùng các tổ phụ, các vua chúa, các tiên tri viết ra lịch sử dân Do Thái là Dân riêng của Ngài và các giáo huấn Ngài dậy dỗ. Vào thời Tân Ước, Ngài sử dụng chính Người Con yêu quý của Ngài và các môn đệ viết lên cuốn Tin Mừng cho thế giới. Và hai ngàn năm sau, vào thời đại tiên tiến của chúng ta, Ngài sử dụng Mẹ Têrêsa viết cuốn Tin Mừng một cách sống động hơn bằng chính đời sống thánh thiện và các hoạt động bác ái của Mẹ. Cuốn Tin Mừng mới này không còn nằm im lìm trong sách báo, trong thư viện, trong nhà thờ, trong những lời rao giảng suông, nhưng trở thành sống động khi đi vào các hẻm hóc của cuộc sống, đi vào các nẻo đường khắp năm châu bằng những bước chân thừa sai bác ái của Mẹ, của các nữ tu Dòng Thừa Sai Bác Ái và của các cộng sự viên thuộc nhiều quốc tịch trên thế giới. Chính những bước chân thừa sai nhỏ bé này đã biến đổi tầm nhìn của thế giới về đạo đức, về nhân phẩm con người, về công bình xã hội và về hoà bình thế giới.
Thực vậy Mẹ đã trở thành một phản chứng của thời đại khi thế giới trong thế kỷ 20 chìm đắm trong trong hận thù, trong chiếm đoạt, trong chém giết hàng loạt của hai cuộc thế chiến, trong các trại tù Đức Quốc Xã và Cộng sản, trong hai lần ném bom nguyên tử xuống Hiroshima và Nagasaki, và trong các trận chiến tại vùng Ấn Độ dương. Người ta coi sinh mạng và nhân phẩm con người không kém loài vật và người ta sẵn sàng hủy hoại hàng triệu sinh linh. Trong khi đó, Mẹ Têrêsa và các nữ tu của Mẹ lại đi vào các cống rãnh phố phường để nhặt từng thân thể dơ bẩn, lúc nhúc ruồi bọ về tắm rửa, băng bó và săn sóc cả vật chất lẫn tinh thần. Mẹ nâng niu mạng sống con người và tìm cách phục hồi lại nhân phẩm cho những con người bất hạnh nhất trần gian.
Uỷ ban trao giải thưởng Nobel Hoà Bình đã nhìn ra chứng nhân bảo vệ đời sống con người của Mẹ Têrêsa giữa một thời đại giết người không gớm tay và năm 1979 họ đã trao giải thưởng cao quý hòa bình này cho Mẹ. Mẹ không thể hiểu được tại sao người ta lại giết nhau tàn ác, dã man như loài thú vật. Mẹ càng không thể hiểu được tại sao người ta có thể đang tâm giết các thai nhi vô tội còn trong bụng mẹ. Tại sao người mẹ lại có thể giết chính đứa con vô tội mình đang cưu mang?
Mẹ Têrêsa nói lên một thứ ngôn ngữ phản kháng, một thứ ngôn ngữ với tầm nhìn đạo đức khi đề cao mỗi con người nhân linh đều mang trong mình một tính chất thần thiêng, đều là con cái của Thiên Chúa tạo dựng. Ngôn ngữ của Mẹ mang những giá trị tuyệt đối và vĩnh cửu giữa một thế giới đang lạc lối trong các chủ nghĩa thực dụng, tương đối, và tục hóa.
Hoạt động bái ái của Mẹ và các nữ tu mỗi ngày mỗi lan rộng khắp năm châu, trong lúc các cuộc chiến đẫm máu vẫn xẩy tại nhiều quốc gia, trong lúc hàng triệu người đang tìm cách vượt biên giới tại Á châu, Trung Đông, Phi Châu, Trung Mỹ. Và đau thương nhất với nhân dân miền Nam Việt Nam cách đây khoảng hai chục năm đã bỏ nhà bỏ cửa, bỏ cả quê cha đất tổ để tìm cách vượt thoát khỏi chế độ tàn bạo Cộng sản. Hàng triệu người đã lênh đênh trên các con thuyền mỏng manh giữa lòng biển cả hoặc lặn lội trong những cánh rừng âm u và khoảng nửa triệu người đã chìm sâu trong lòng đại dương hoặc ngã gục nơi chốn rừng thiêng. Giữa hai khung cảnh trái ngược nhau như thế, con người nhân linh thời đại muốn nghe một ai đó không ham chức quyền, không màng danh lợi, không mưu tính tiền bạc, nhưng lại tha thiết đem lại phúc lợi cho con người, nhất là những người nghèo khổ, bất hạnh và bị bỏ quên nhất thế giới. Và thực sự cả thế giới lắng nghe một người phụ nữ nghèo hèn và trắng tay quyền lực, nhưng lại dám can đảm dấn thân vào cơn hấp hối của nhân loại và du hành khắp thế giới để xoa dịu thương đau với một chiếc túi xách chứa hai bộ đồ của giới cùng đinh Ấn Độ, cuốn Thánh Kinh và một cuốn sổ học trò.
Người ta muốn nghe người nữ tu này nói một điều gì đó giải đáp cho cơn đói khát linh thiêng trong tâm khảm con người, một điều gì đó xác quyết họ không phải là kẻ vô nghĩa, kẻ dư thừa trong vận hành của lịch sử. Dầu sống giữa những tàn bạo, độc ác tập thể của thế giới, người ta vẫn muốn lắng nghe một ai đó đề cập và nhất là làm nhân chứng cho một sức mạnh của yêu thương còn mãnh liệt hơn sức mạnh của gian ác, của bom đạn và họ muốn được góp phần tạo sức mạnh yêu thương này. Sự hiện diện của Mẹ ở bất cứ nơi đâu đều giúp mọi người ý thức về suối nguồn yêu thương của Đấng Tạo Hóa đang tuôn đổ trên các tạo dựng của Ngài và ý thức về vị trí của họ trong cuộc sống yêu thương này. Dời bỏ nơi đâu, Mẹ như muốn mọi người ghi nhớ câu tâm niệm này: "Tình yêu là hoa trái trong mọi mùa và nằm trong tầm tay của mỗi người. Mọi người đều có thể thu gom tình yêu và không gì giới hạn được cả."
Đứng trước giữa các thính giả khác nhau, Mẹ nhắc nhớ cho rằng họ đang được Thiên Chúa yêu thương dù họ thuộc bất kỳ tôn giáo nào, sắc tộc nào. Mẹ đem đến cho họ Tin Mừng về giá trị vô song của họ, trong lúc các sứ điệp của thế giới nói ngược lại và hạ thấp giá trị và nhân phẩm của họ. Mẹ trở thành biểu tượng không những của một Thiên Chúa yêu thương, nhưng còn của cả một Thiên Chúa đang sống động nữa. Chính vì sức mạnh thần thiêng này, tổ chức Inter-Church Features, gồm chín cơ quan xuất bản của Canada và Hoa Kỳ đã chọn sáu khuôn mặt phụ nữ trong năm 1982 là những "gương mặt anh hùng Kitô giáo đáng được tuyên dương," và Mẹ đứng hàng đầu trong danh sách này. Và tờ Good Housekeeping, một tờ báo được lưu hành rộng rãi tại Hoa Kỳ cũng đã bình bầu Mẹ là một "Phụ nữ đáng khâm phục nhất" trong hai năm liền, 1982 và 1983.
* Phản ứng đối nghịch (reactionist)
Cuộc đời và các hoạt động của Mẹ Têrêsa tựa như con thuyền mỏng manh đang chèo chống ngược dòng thác lũ chảy ra biển khơi. Nhiều khi người ta có cảm tưởng Mẹ làm những chuyện ngược đời và đôi khi trở thành gương mù cho thói đời. Theo lẽ thường, ai cũng sợ hãi yếu đau và tật bệnh, cũng như run sợ trước chết chóc, đàng này Mẹ Têrêsa lại ngang nhiên đi tìm kiếm và phục vụ những ai mang vác những căn bệnh ghê tởm nhất thế giới như bệnh phong cùi, bệnh AIDS. Mẹ lại đi vào các hẻm hốc phố xá để ôm về những thân tàn ma dại đang nằm hấp hối bên các cống rãnh. Trong lúc người đời và có khi có cả một số tu sĩ sống nếp sống phong lưu, trưởng giả, an nhàn với đầy đủ tiện nghi nhà cửa, xe cộ và ăn sài theo thời trang, thì Mẹ Têrêsa ra lệnh cho các nữ tu dòng Thừa Sai Bác Ái lột thảm nhà, dời bỏ tủ lạnh, máy hút bụi vừa được anh em Công giáo Hoa Kỳ trang bị cho nhà dòng tại San Francisco.
Trong lúc người đời và có cả những người trong Giáo hội ham mê tìm kiếm tiền tài và danh lợi, thì Mẹ lại quay đầu đi và đam mê những người nghèo khổ nhất. Thay vì đi tu sống tại Albani hay tại Ái Nhĩ Lan, Mẹ lại háo hấc xin đi truyền giáo tại Ấn Độ, một quốc gia thuộc loại nghèo khổ nhất Á Châu. Thay vì tiếp tục dậy học hay cai quản ngôi trường dậy dỗ những con nhà quý phái với những tiện nghi ấm cúng, Mẹ đã xin cởi bỏ áo dòng để đi lang thang giữa chợ đời phục vụ những con người nghèo khổ nhất Ấn Độ.
Nhìn thấy quang cảnh những người hoặc những gia đình sống lêu bêu trên hè phố: có những người còn đủ sức mạnh và lanh lợi đi kiếm ăn tự nuôi mình hay gia đình, có những người già yếu hoặc bệnh tật không thể làm gì hơn được là ngồi ăn xin khách qua đường, và có những người quá kiệt quệ, đói khát và bệnh tật đang nằm chờ chết và mỗi sáng xe cảnh sát thành phố rảo qua một vòng phố xá để nhặt nhãnh các xác chết trong đêm, Mẹ Têrêsa không quay mặt, ghê sợ và vội vã bỏ ra đi, nhưng Mẹ theo gương người Samaritanô, ngoại giáo, đến ôm chầm lấy nạn nhân bị bọn cướp trấn lột và đánh trọng thương và vực lên lưng ngựa, rồi đem đến quán trọ băng bó và nuôi ăn. Ngày hôm sau ông còn trở lại quán trọ thăm nom, săn sóc và trả tiền cho chủ quán. Phải chăng chính trong cái nghèo khổ thương đau của Calcutta này đã hun đúc Mẹ Têrêsa đi đến quyết định phải cách mạng xã hội và giáo hội?
Thật là một cảnh đối nghịch kịch cỡm giữa khung cảnh nghèo đói xác sơ của hè phố Calcutta lại nổi bật một tòa Tổng Giám Mục sang trọng với lối kiến trúc tinh xảo, với những hàng cây tươi mát, những bãi cỏ xanh mướt, với hang Đức Mẹ Lộ Đức bên giếng phun nước thơ mộng. Và Franca Zambonini, trong cuốn Teresa of Calcutta, A Pencil in God's Hand nhận định thêm: "Đúng là một thiên đàng lạc lõng giữa chốn hỏa ngục trần gian." Trong khi đó Mẹ Têrêsa lại chủ trương khi đến phục vụ những người nghèo khổ nhất, Mẹ cũng phải sống nghèo khổ như họ, trở nên một người như họ. Phải chăng Chúa Giêsu không để lại tấm gương sáng cho Mẹ: "Con cáo có hang, con chim có tổ, nhưng con người không nơi tựa đầu." Và Tổng Giám Mục Calcutta nhìn nhận: "Mẹ Têrêsa là một dấu chỉ thời đại, một bậc thầy. Mẹ trở thành dấu chỉ cho chúng ta biết cách thức ứng xử với cảnh nghèo khổ và gương sáng của Mẹ thúc đẩy và tăng cường các sáng kiến của chúng ta... Chúng tôi cảm kích lối sống hiến thân trọn vẹn của Mẹ và phản ứng nhanh chóng khi đối diện với những vấn đề khó khăn."
Cũng chính vị Tổng Giám mục này khi còn là Linh mục đã có lần than thở với Mẹ về những khó khăn đang gặp phải, Mẹ nhẹ nhàng nhắc nhở: "Linh mục luôn luôn nói về các nan đề, thế linh mục không thể tìm được danh từ nào khác để diễn tả các khó khăn sao?" Và Mẹ giới thiệu danh từ "quà tặng" thay thế! Mẹ không phải nhà thần học khi đề cập về ơn thánh, nhưng Mẹ sống ý nghĩa của ơn thánh hơn ai hết. Phải, tất cả mọi vui buồn, mọi may mắn hay rủi ro đều là ân huệ, đều là quà tặng của Thiên Chúa. Và đã là ân huệ, là quà tặng, thái độ duy nhất của Mẹ là giơ tay đón nhận với lời cảm tạ và biết ơn. Chính quan niệm thần học thâm sâu này đã giúp Mẹ giữ được thái độ bình thản, an nhiên tự tại, an vui trước mọi giao động, mọi thử thách, mọi khổ đau.
Sống tại Ấn Độ, một xứ sở của nền triết học đa thần, tất cả mọi sự vật đều mang thần tính, đều linh thiêng, do đó nơi đây triển nở đời sống chiêm niệm khá thâm sâu. Với bầu không khí mang tính chất linh thánh này, cộng với nền thần học Kitô giáo tin tưởng Thiên Chúa tạo dựng mọi loài và Ngài ở khắp mọi nơi, Mẹ Têrêsa áp dụng một cách thực tiễn tầm nhìn thâm thuý về sự hiện diện của Ngài một cách sống động nơi mọi người, nhất là Ngài ngụy trang nơi những con người khốn khổ nhất nhân loại. Chính vì nhìn ra Chúa Giêsu đang hiện diện nơi những con người hấp hối, nơi những ai mang vác những tật bệnh trầm kha như phong cùi, AIDS, Mẹ lăn xả tìm đến để phục vụ Ngài ở đó. Tình yêu của Mẹ đối với Chúa không đơn thuần chỉ là tình cảm hoặc suy niệm, nhưng hơn thế, phải đi tìm Ngài nơi trần giới để yêu thương và phục vụ Ngài ở đó. Đầu mỗi ngày, Mẹ và các nữ tu dành ra một giờ sống tận hiệp với Chúa Thánh Thể và sau đó cùng với sức sống Thánh Thể, Mẹ và các nữ tu bước theo Thánh Thể Chúa đi vào con đường thánh giá của trần gian để đem ơn cứu độ của Ngài đến cho những con người khốn khổ nhất trần gian.
Mấy ai trong Giáo hội sống được nền thần học Thánh Thể sâu sắc và thực tiễn như Mẹ? Đa số các tín hữu chỉ biết tập trung vào Chúa Giêsu Thánh Thể trong nhà thờ. Hầu hết các tín hữu mỗi tuần đến với Thánh Thể một lần và hết nhà thờ là hết Thánh Thể. Mấy ai làm bật nổi được hình ảnh Chúa Giêsu Thánh Thể vác thập giá đi vào đời, Thánh Thể nướng bánh cho các môn đệ trên bờ biển, Thánh Thể đến uỷ lạo hai môn đệ trên đường về Emmau? Thiên Chúa đã sử dụng Mẹ Têrêsa để nhắc nhở Giáo hội cần làm nổi bật sự hiện diện sống động của Chúa Giêsu Thánh Thể trong đời sống gia đình, xã hội, quốc gia và thế giới. Đó là Tin Vui của Ngài cho thời đại hôm nay. Con đường đem ơn cứu độ của Ngài đến cho người khác nằm tại tầm nhìn thâm sâu này và đem thể hiện trong cuộc sống. Con đường Chúa đã vạch vẽ cho Giáo hội thời nay đi theo là đó, con người không thể né tránh hoặc chần chờ được nữa. Mỗi người phải trở thành phản chứng của thời đại, phải phản ứng ngược chiều theo gương Mẹ Têrêsa. Giáo hội muốn phát triển giữa thời đại hôm nay, không còn chọn lựa nào khác!









